C.
THÀNH PHẦN CÂU
I.
Thành phần chính và thành phần phụ
Thành
phần chính của câu là thành phần bắt buộc có mặt để câu có cấu tạo hoàn chỉnh,
diễn đạt được một ý trọn vẹn
+
Chủ ngữ: thành phần chính của câu nêu tên sự vật, hiện tượng có hoạt động, đặc
điểm, trạng thái… được miêu tả ở vị ngữ.
Chủ
ngữ thường trả lời cho câu hỏi: Ai, cái gì, con gì?
+
Vị ngữ: là thành phần chính của câu có khả năng kết hợp với các phó từ chỉ quan
hệ thời gian
-
Thành phần phụ của câu:
+
Trạng ngữ: đứng đầu, cuối, giữa câu nhằm nói lên hoàn cảnh về không gian, thời
gian, cách thức, phương tiện, nguyên nhân, mục đích… diễn ra sự việc ở trong
câu
+
Khởi ngữ: thường đứng trước chủ ngữ, nêu lên đề tài của câu nói, có thể thêm
quan hệ từ về, đối với vào trước
-
Ví dụ: a, Có lẽ: thành phần tình thái; /b, Ngẫm ra: thành
phần tình thái; /c, Dừa xiên thấp lè tè, quả tròn, nước ngọt, dừa nếp … vỏ
hồng: thành phần phụ chú; /d, Bẩm: thành phần gọi – đáp - có khi: thành phần
tình thái; /e, Ơi: gọi – đáp.
II. Thành phần biệt
lập:
1. Thành phần biệt lập là bộ phận
không tham gia vào việc diễn đạt nghĩa sự việc của câu.
2. Trong câu tiếng Việt ta thường gặp các thành
phần biệt lập như: Thành phần tình thái, thành phần gọi – đáp, thành phần cảm
thán, thành phần phụ chú.
3. Thành phần biệt lập có thể đứng
ở nhiều vị trí khác nhau trong câu, thường được phân cách bằng các dấu câu như
dấu phẩy, dấu chấm than, dấu hai chấm, dấu gạch nối.
4. VD: “Nhưng còn cái này nữa mà ông sợ, có lẽ còn ghê rợn hơn cả những tiếng kia nhiều” (Kim
Lân).
Chao ôi, bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác,
nhưng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài. (Nguyễn Thành Long)
- Thành phần gọi – đáp dùng để tạo
lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp:
Ví dụ: Này, bác bảo
bác ấy có trốn đi đâu thì trốn. chức cứ nằm đấy, chốc nữa họ vào thúc sưu,
không có, họ lại đánh trói thì khổ. Người ốm rề rề như thế, nếu lại phải một trận
đòn, nuôi mấy tháng cho hoàn hồn.
Vâng, cháu cũng đã nghĩ như cụ.
Nhưng để cháo ngượi, cháu cho nhà cháu ăn lấy vài húp đã. Nhịn suông từ sáng
hôm qua tới giờ còn gì. (Ngô Tất Tố)
- Thành phần tình thái được dùng để thể hiện cách nhìn
của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu.
Ví dụ:
Nhưng còn cái này nữa mà ông sợ, có lẽ
còn ghê rợn hơn cả những tiếng kia nhiều. (Kim
Lân).
-
Thành phần cảm thán được dùng để bộc lộ tâm lí của
người nói (Mừng, vui, buồn, giận,…).
Ví dụ:
Chao ôi, bắt gặp một con người
như anh ta là một cơ hội hãn hữu …, nhưng hoàn thành sáng tác còn là một chặng
đường dài. (Nguyễn Thành Long)
- Thành phần phụ chú được
dùng để bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu.
Ví dụ: Chúng tôi, mọi người – kể
cả anh, đều tưởng con bé sẽ đứng yên đó thôi!
(Nguyễn
Quang Sáng)
*******************************************

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét